Người Việt Atlanta

www.nguoivietatlanta.com

  • Full Screen
  • Wide Screen
  • Narrow Screen
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Hoài niệm về trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho

Email In
Xem kết quả: / 4
Bình thườngTuyệt vời 

     

 

Đây là trường trung học công lập đầu tiên, kỳ cựu nhất của nước ta, được Pháp xây dựng từ năm 1879, sau khi chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa. Lúc đầu, trường mang tên Collège de Mytho, nhưng đến cuối năm 1942, đổi tên Collège Le Myre de Vilers, để tưởng nhớ người đã ký nghị định thành lập trường ngày 17/3/1879. Đó là Thống đốc Nam Kỳ -Le Myre de Vilers. Trước đó, trường chỉ có các lớp Cao đẳng Tiểu học: từ Première année (năm thứ nhất) đến Quadrième année (năm thứ tư) -dự thi bằng Diplôme (Thành chung) hoặc Brevet élémentaire. Từ 1943, theo chương trình mới Enseignement moderne, trường mở thêm lớp Seconde và Première. Từ đó, nhiều người gọi là trường Lycée Mỹ tho, vì Lycée là trường trung học đệ nhị cấp, còn Collège chỉ là trường trung học đệ nhất cấp. Lớp première sẽ thi “bachot” để lấy bằng “Bac un local” tức Tú tài1 bản xứ để phân biệt với Tú tài Pháp. Bac là tiếng nói tắt chữ Baccalaureat.

 Vào thập niên 1860, vì thế yếu, vua Tự Đức đã chấp nhận ký hòa ước với thực dân, nhượng Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa. Sau đó chúng xâm chiếm Trung và Bắc Kỳ, đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Gần một thế kỷ sau, vị vua cuối cùng triều Nguyễn là cựu hoàng đế Bảo Đại đã tranh đấu giành được độc lập và thống nhất quốc gia từ tay Pháp với Hiệp ước Elysée được ký ngày 8/3/1949 giữa cựu hoàng với tổng thống Pháp Vincent Auriol. Quốc gia Việt Nam ra đời dưới sự lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại. Chương trình giáo dục thuần túy Việt được áp dụng từ niên học 1951-52 với các lớp đệ thất, thay thế các lớp 1ère année. Lớp học sinh này sẽ thi bằng Trung học Đệ nhất cấp năm 1955 và Tú tài 1 năm 1957. Ngày 22/2/1953, ông Nguyễn Thành Giung -Tổng trưởng Giáo dục dưới thời Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm đã ký Nghị định 179-ND/GD, đổi tên Collège Le Myre de Vilers thành trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu. Đây là di sản của thời thực dân để lại, nay mang tên một sĩ phu yêu nước, đã tham gia chống Pháp ngay từ khi chúng vừa đánh chiếm thành Kỳ Hòa (Sàigòn) năm 1859. Cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu đã rời Gia Định, di chuyển về quê vợ ở Cần Giuộc. Nơi đây cụ đã thảo bản “Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc” thật cảm động, nói lên tinh thần dũng cảm hy sinh của những nghĩa binh, vốn là những nông dân chất phác đã tấn công đồn lính Pháp ở Cần Giuộc hồi cuối năm Tân Dậu 1861.

 Cần Giuộc là quê hương của tác giả bài viết này. Tôi lại được vinh hạnh là lớp học trò đệ thất đầu tiên (niên học 1953-54) của ngôi trường cổ kính, nổi tiếng, mang tên Nguyễn Đình Chiểu. Từ đó đến nay, đất nước đã trải qua các bước thăng trầm, từ Quốc gia, sang Cộng hòa rồi Cộng sản, nhưng ngôi trường vẫn luôn mang tên cụ đồ Nho yêu nước, đào tạo những con dân mà tiêu chuẩn đầu tiên là học lễ nghĩa Thánh hiền: “Trai thời trung hiếu làm đầu. Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. (Lục Vân Tiên)      

 Cuối tuần này, 17/3/2012 cũng là ngày mà 133 năm trước Thống đốc Le Myre de Vilers ký nghị định thành lập trường, các anh Trần Minh Trí, Nguyễn Văn Nghĩa, Đặng Hà... cùng một số cựu học sinh Nguyễn Đình Chiểu Mỹ tho cho ra mắt Tập san “Hoài niệm về một thời đã qua” vềngôi trường đã tồn tại qua ba thế kỷ từ 19, 20 và 21. Tôi viết bài Hoài niệm trường xưa để đóng góp với anh em, ghi lại một vài kỷ niệm về ngôi trường thân yêu, để thân tặng các bạn đồng môn, anh niên trưởng Nguyễn Văn Tới, thuộc lớp học sinh chương trình Việt đầu tiên (1951-52) cùng các anh chị đồng lớp Đệ thất niên học 1953-54: chị Lệ Khanh và các anh Hồ văn Các, Nguyễn văn Phấn, Nguyễn văn Chấn và Nguyễn văn Hà....Trước biến cố 30/4/1975, anh Chấn và Hà còn trở lại trường xưa giảng dạy lớp thế hệ hậu tấn.

 Lớp học trò mới niên khóa 1953-54, khoảng 400 với 10 lớp Đệ thất, gồm 7 lớp nam và 3 lớp nữ. Số học sinh cũ gồm 4 lớp Đệ lục, 4 lớp Đệ ngũ thuộc chương trình Việtvà 8 lớp thuộc hệ thống Enseignement moderne. Đó là các lớp Quadrième année, Seconde và Première. Lớp 4ème sẽ dự thi bằng Diplôme năm 1954 -đây là khóa thi Diplôme cuối cùng, hoặc thi bằng Brevet chương trình Pháp. Các lớp Seconde bao gồm học sinh đã đậu Diplôme ở các trường tư và Collège de Vĩnh Long. Lúc bấy giờ, các trường này chỉ dạy đến 4ème année, học sinh muốn học cao hơn phải chuyển trường: Nguyễn Đình Chiểu, Pétrus Ký hoặc Gia Long.

 Suốt thời gian theo học ở bậc trung học, tôi sống trong khuôn viên trường NĐC, vì bác tôi (ông Lê Văn Hữu) đang giảng dạy và trú ngụ ở đây. Có thể nói, đây là thế giới mới của một học trò nhà quê sống ở thành thị, đi học còn mặc quần xà lỏn, áo sơ mi ngắn tay, chân mang guốc. Dù 60 năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ từng chi tiết những kiến trúc, phòng ốc, cảnh trí của ngôi trường mà tôi đã la cà, rong chơi không sót một chỗ nào trong một thời gian dài của thời niên thiếu. Trường được bao quanh bằng bốn bức tường thành cao hơn hai mét, riêng mặt tiền trên đường Lê Lợi (lúc đó là Avenue d’Ariès) có các chấn song sắt xen kẻ. Đối diện cổng chánh là bến xe, kế bên là nhà việc làng Điều Hòa, phía sau là chợ Mỹ tho. Bên ngoài bức tường về hướng Bắc, là dãy phố trệt và một số biệt thự nhìn ra Rue Maréchal Foch (đường Ngô Quyền). Hướng Nam là Rue des Landes (đường Lê Đại Hành). Mặt hậu của trường là khu đất rộng, cách bức tường khoảng 10 mét là nhà của một số giáo chức sở tại, ngoài cùng là Ty Tiểu học và ba biệt thự lầu số 8, 10 và 12 nhìn ra Boulevard Bourdais (đại lộ Hùng Vương). 

 Đây là hình ảnh trường NĐC vào thời điểm tôi nhập học tháng 9/1953. Hai bên cổng chánh là hai ngôi nhà, nóc bánh ít hình vuông, diện tích khoảng 25 mét. Bên mặt là nhà tiền vãng, thờ các vị tiên sư quá cố. Bên trái, cạnh cổng sắt phụ là nhà concierge. Góc trái là biệt thự lầu dành cho hiệu trưởng, lúc đó gọi là Proviseur -thầy Dương Văn Dõi. Censeur tức Giám học là thầy Đinh Căng Nguyên. Góc bên phải là một biệt thự trệt dành cho Tổng giám thị (Surveillance générale) lúc đó là thầy Trần Văn Vạng, mà học trò chúng tôi thường gọi một cách thân thương: Bác Ba Vạng. Trong giai đoạn chuyển tiếp, từ chương trình Pháp sang chương trình Việt, thầy trò thường có thói quen, nói tiếng Việt kèm tiếng Pháp, như không thuộc bài bị zero encadré (bị đóng khung) tức bị phạt consigne (cấm túc) phải vào trường học lại bài ngày chủ nhật.

Bên trong cổng chánh là một khoảng đất rộng có nhiều cây me và dái ngựa cao lớn, sâu khoảng 50 mét, tiếp giáp với một dãy nhà gạch nằm ngang, ở giữa có khoảng trống dẫn vào trung tâm của trường. Bên mặt dãy nhà ngang có 4 phòng: Hai căn đầu là văn phòng proviseur và censeur. Kế tiếp là thư viện do bà Dương Văn Cấp phụ trách. Ông Cấp là giáo sư của trường, bị Việt Minh thủ tiêu hồi năm 1945-46 vì bất đồng chính kiến với họ. Phòng ngoài cùng là văn phòng hành chánh. Căn đầu của dãy nhà ngang phía trái là phòng Tổng giám thị, ba căn còn lại là lớp học.

Qua khỏi dãy nhà ngang, là con đường trải đá dài khoảng 50 mét, nối liền với dãy lầu sắt nằm song song dãy nhà ngang, hai bên trồng hoa rất đẹp, giữa con đường là cột cờ. Hai bên đường là bãi cỏ xanh vuông vắn. Bên mặt tiếp giáp với khu nhà tắm Douche, nằm sâu dưới mặt đất khoảng nửa mét, có tam cấp bước xuống, trong đó có 2 dãy, mỗi dãy 5 phòng tắm. Bên trái là nhà Préau, hình vuông, diện tích khoảng 100 mét, thoáng trống không có vách, dùng để triển lãm, đánh bóng bàn hoặc học vẽ, ngoài cùng là sân tennis.

Từng trệt dãy lầu sắt có 8 phòng học, chính giữa là khoảng trống rộng hơn 4 mét, dẫn vào sân thể dục của trường. Hai bên các phòng học đều có balcon với hành lang rộng. Căn sát cầu thang cánh trái là phòng giáo sư. Các phòng học trên lầu cánh trái cũng có hành lang rộng, nhưng chỉ có một bên về hướng cột cờ. Đây là 4 lớp từ Đệ thất 7 đến Đệ thất 10 niên học 1953-54. Tôi học lớp Đệ thất 8. Phần trên lầu cánh mặt, bỏ trống. Trước năm 1949, nơi đây là khu dortoires tức phòng ngủ của học sinh interne (nội trú), nay không còn an toàn để sử dụng. Tuy nhiên, ở góc trái, trước đây là phòng ở của giám thị học trò nội trú, vẫn còn sử dụng được, sau 1955 dùng làm nơi trú ngụ của các giáo sư độc thân, trong số có thầy Thế Viên, thầy Phạm Mạnh Cương...

Cánh trái và mặt của dãy lầu sắt có hành lang nối liền với hai dãy lầu đúc, tạo thành hình chữ U, kiến trúc theo kiểu Roman, có hành lang rộng khoảng 3 mét với balcon vòm hình bán nguyệt, trông rất hùng vĩ. Phía sau cầu thang lầu đúc cánh Nam có hành lang nối dài đến vách tường thành, quẹo mặt vào khu vệ sinh có 5 cầu tiêu. Quẹo trái, là dãy lavabo dài khoảng 10 mét, nằm dọc theo bờ thành đường Lê Đại Hành, tiếp giáp với sân tennis. Trước mặt lavabo là sân bóng chuyền. Phía sau cầu thang dãy lầu đúc cánh Bắc có hành lang đến bức tường phía đường Ngô Quyền, quẹo mặt vào khu vệ sinh, quẹo trái là nhà kho, lúc bây giờ là chỗ ở của gia đình chú năm Cường, là cặp rằng trường NĐC. Chú chỉ huy khoảng 10 lao công phụ trách quét lớp học và sân trường.

Căn phòng đầu, từng trệt của dãy lầu đúc cánh mặt (đường Ngô Quyền) là nơi trú ngụ của một nữ giáo sư người Pháp duy nhất của trường niên khóa 1953-54. Đó là Madame Poli. Thầy Huỳnh đình Tràng là bạn thân của cô Poli, họ thường đi dạo quanh sân trường vào những buổi chiều cuối tuần. Căn đầu từng trệt của dãy lầu đúc đối diện (đường Lê Đại Hành) là phòng thí nghiệm. Kế bên là amphithéâtre, có nhiều bậc tam cấp, phía trước thấp, phía sau cao dần, học sinh di chuyển đến phòng này để học các giờ Lý Hóa. Kế tiếp là ba phòng học được ngăn bằng vách ván, để dễ dàng tháo gỡ, dùng làm hội trường trong các dịp phát thưởng cuối năm. Trước đây, là phòng ăn của học trò nội trú, nên phía sau có hành lang dẫn xuống một nhà bếp lớn. Bên mặt nhà bếp là khu vệ sinh, có khoảng 20 cầu tiêu, bên cạnh là trại mộc. Bên trái bếp là nhà kho, là chỗ ở của gia đình bác Mười concierge. Phía trước, hướng tay mặt là bồn nước cao hơn dãy lầu đúc bên cạnh. Trên lầu, có một phòng nhỏ, thầy Trần Ngọc Tế và ba con Tuyền, Sơn và Bích đã trú ngụ nhiều năm ở đây.   

Hai bên cổng hậu của trường là hai dãy nhà thiếc. Bên mặt là 3 lớp Đệ thất 4, 5 và 6 niên khóa 1953-54. Bên trái là 5 căn nhà của giáo sư. Ngoài cùng sát cổng là nhà của bác tôi - thầy Lê văn Hữu. Căn kế của thầy Nguyễn văn Thâu, dạy vẽ, năm 1955 thầy thuyên chuyển về trường Mỹ thuật Gia định, người trú ngụ kế tiếp là thầy Ngô văn Cảo và thầy Cao xuân Cát. Căn giữa của chị ba Liên (Trương thị Liên) giám thị. Chị có đứa con nhỏ tên Dũng, người em thứ tám tên Phong và em kế tên Chín cùng vào Đệ thất một lượt với tôi. Chị ba Liên là cháu ông Hồ văn Trực, hiệu trưởng Collège de Mytho từ 1948 đến 1952. Ba của cháu Dũng là học sinh lớp Première niên khóa 1948-1949, cùng lớp với chị Liên, nghe nói đã theo Việt Minh kháng chiến từ 1950. Căn thứ tư của thầy Bùi hữu Kiển, năm sau thầy vào trường Quốc gia Hành chánh, thầy Phạm nguyễn Chu cùng gia đình đã cư ngụ tại nhà này từ năm 1956. Căn cuối cùng của thầy Đào văn Lân dạy Việt Văn, có con là Đào văn Xuân học cùng lớp với anh Nguyễn văn Tới và chị Đào thị Kiều Oanh học trên tôi một lớp. Thầy Phan chừng Thanh và gia đình đã cư ngụ trong nhà này từ năm 1955. Nhờ đó, tôi có dịp biết thân sinh thầy là cụ Phan thế Roanh, lúc đó là Thanh tra trung học. Bác tôi thường đàm đạo với người đồng nghiệp gốc miền Bắc khi cụ xuống Mỹtho thăm con cháu. Ai cũng thích thú có dịp tìm hiểu về nền Nho học ở đất Bắc, vì cụ là dòng dõi khoa bảng. Thân sinh là cụ Phan mạnh Danh, bạn đồng khóa với cụ Tam nguyên Yên Đổ.

 Từ 1957, trường còn phụ trách hai lớp Sư phạm cấp tốc, 10 lớp học mới được xây cất thêm, nối tiếp với dãy lầu đúc cánh Nam. Các phòng học mới thoáng mát hơn, nhưng không bề thế bằng dãy lầu cũ. Cổng hậu của trường được dời về đường Hùng Vương và trở thành cổng chánh. Ngôi biệt thự kế cận -số 10 đường Hùng Vương, trước đó, gia đình thầy Trần văn Ất đã ở nơi đây, nay chuyển sang cho thầy Trần Văn Dinh. Niên khóa 1959-60, bác tôi đã thuyển chuyển về quê nhà ở Cầngiuộc, nên chú ba Dinh cho tôi ở trọ trong nhà này. Sau đó, là nơi cư trú của bà Nguyễn như Hằng, hiệu trưởng đầu tiên của trường nữ Trung học Lê Ngọc Hân.

Hình ảnh các thầy cô trường NĐC niên khóa 1953-54 đã in sâu vào tâm khảm tôi: Dư văn An, Trần văn Ất, Nguyễn anh Bổn, Nguyễn văn Châu, Hồ thị Chi, Lê văn Chí, Đinh văn Của, Nguyễn văn Dậu, Trần văn Dinh, Võ văn Đây, Võ quang Định, Dương thành Hoàng, Lê văn Hữu, Bùi hữu Kiển, Nguyễn văn Kiết, Võ văn Liễu, Phạm văn Lược, Bùi văn Mạnh, Phạm văn Mân, Phan ngọc My, Lê quan Nghĩa, Lê thị Nhân, Nguyễn an Ninh, Madame Poli, Nguyễn ngọc Quang, Trương công Sâm, Phùng văn Tài, Trần ngọc Tế, Nguyễn văn Thâu, Huỳnh Thuận, Chung Tốt, Huỳnh đình Tràng, Bùi quang Trứ...Giám thị gồm có các thầy Nguyễn văn Đạt, Ngô văn Hùng, Phạm văn Khánh, Ngô văn Hoành, cô Trương thị Liên, thầy Bùi văn Mùi, thầy Nguyễn văn Phái và cô Nguyễn thị Tốt. Ngoài ra, còn có thầy Quan Cầu là y tá của trường.       

Ban giảng huấn lúc bấy giờ chỉ có một người miền Bắc duy nhất là thầy Phùng văn Tài. Đa số giáo sư, xuất thân từ các gia đình điền chủ, du học ở Pháp từ giữa thập niên 1920. Phần lớn theo học các trường ở miền Nam nước Pháp như Marseille, Toulouse, Montpellier...Nhiều vị, như thầy Nguyễn anh Bổn đã từng tham dự biểu tình, tưởng niệm các anh hùng Yên Bái (1930). Đến năm 1932, kinh tế khủng hoảng trầm trọng, một giạ lúa giá 1 đồng, nay sụt xuống chỉ còn 20 xu. Nhiều gia đình, không còn khả năng trợ cấp, để con cháu tiếp tục học thêm. Bác tôi về nước trong năm này cùng chuyến tàu với ông Nguyễn văn Kiết.  Ông thuộc gia đình điền chủ giàu có ở Đức hòa tỉnh Chợlớn. Trên tàu về nước ông mua vé hạng bình dân, nhưng hách dịch, đòi bồi tàu phải mang thức ăn đến cho ông, như lúc ông sang Pháp với vé hạng nhất. Vì thế bị tên Tây bồi tàu hành hung, song nhờ bác tôi, “đô con” hơn can thiệp. Năm 1953 ông cư ngụ tại biệt thự số 8 đường Hùng Vương, đi dạy ông ăn mặc rất sang trọng, trời mưa, ông vào trường bằng xe xích lô, dù khoảng cách chỉ hơn 150 mét. Với phong cách như vậy, sau Tết Mậu Thân 1968, ông lại vào khu giải phóng, giữ chức vụ Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam.

Trong niên học 1953-54, tôi được xem một đoàn hát từ Pháp sang trình diễn vỡ tuồng Le Cid của Corneille ở rạp hát Trung Quốc, cạnh nhà thuốc tây của thầy Dư văn An. Đây là câu chuyện tình cảm thật cảm động, nói lên sự cân phân giữa chữ tình, chữ hiếu và danh dự gia đình của đôi “trai tài gái sắc” Rodrigue và Chimène. Tuồng tích này đã được giảng dạy trong môn văn học sử Pháp. Đến tháng 5/1954, chỉ còn hai tháng là bãi trường, các anh lớp Première, Seconde, Quadrième année lại tổ chức bãi khóa, hô hào cả trường đi biểu tình chống bắt lính. Đoàn biểu tình bị xe vòi rồng ngăn chận tại góc đường gần bến phà Rạch Miễu. Sau đó, có tin đồn, ai tham gia biểu tình sẽ bị Công an và Phòng nhì bỏ tù. Ngay hôm sau, tôi rời Mỹtho, trở về Cầngiuộc, vì sợ bị bắt.

Ngày 20/7/1954, theo truyền thống, trường Mỹ Tho sẽ tổ chức lễ phát phần thưởng thật long trọng, nhưng năm nay đất nước bị chia đôi. Đoàn quân viễn chinh Pháp đã tập kết tại trường để trở về nước. Trong khi đó, nhiều cựu học sinh Collège Mỹ tho đã tham gia kháng chiến hoặc tham dự biểu tình chống bắt lính mấy tháng trước, sợ bị bắt nguội, đã trốn ra bưng theo Việt Minh, một số, nay tập kết ở Đồng Tháp Mười để đi ra Bắc. Trong đó, chắc có anh Chín, em chị ba Liên, vì niên học sau không thấy anh trở lại trường.

                                                                       *

Tôi đã sống trong ngôi trường NĐC yên tỉnh, giữa thành phố Mỹ tho thanh bình khi đất nước vừa hết chiến tranh. Tôi đã ghi lại những hoài niệm về thế giới nhỏ của tôi. Giờ tôi bước ra thế giới lớn bên ngoài: thành phố Mỹ tho với những hoài niệm, nhận thức của một học trò 15, 16 tuổi. Năm 1956, ông Nguyễn Trân về nhậm chức tỉnh tưởng Định tường, ông đã biến nơi đây thành biểu tượng sống động cho cả nước. Ông mướn nhà thầu canh tân chợ Mỹ tho giống như chợ Bến thành. Các căn phố quanh chợ, được Ty Ngân khố cho vay tiền để xây mặt tiền đồng bộ với nhau. Khu chợ được tân trang có thêm cả trăm sạp mới, bốn bên là những dãy kiosque xinh xắn, được giới tiểu thương mua, lấy tiền đủ trả cho nhà thầu. Ông còn mua cả trăm xe xích lô, hữu sản hóa giới lao động này. Mỗi ngày họ chỉ trả góp 14 đồng bằng số tiền mướn xe, cho đến khi hết nợ. Để đền bù thiệt hại cho chủ xe, ngoài việc mua xe đúng thời giá, ông cấp cho họ một vài gian hàng trong chợ để kinh doanh. Còn khách đi xích lô, không còn kỳ kèo trả giá, chỉ bước lên xe, đến nơi trả một số tiền từ 3 đến 5 đồng, tùy đoạn đường di chuyển. Một nét văn hóa mới thanh lịch của thành phố Mỹ tho.

 Đoạn đường ven rạch Bảo Định trên đường Trưng Trắc, vốn rất dơ bẩn, nay được cẩn đá, đổ xi măng thành mặt bằng, trên đó là một dãy dài các kiosque bán sinh tố, nước giải khát... nối tiếp nhau từ Cầu Quay đến ga xe lửa cũ. Ban đêm đèn néon chiếu sáng xuống dòng sông, tăng thêm vẽ đẹp của dãy phố thương mại chính của thành phố. Ga xe lửa cũ, nay là công viên Lạc Hồng xinh đẹp bên bờ sông Tiền. Trên đường Hùng Vương, bên cạnh sân vận động, là vườn hoa Dân chủ, có đặt thùng thơ dân ý và sân khấu trình diễn văn nghệ và chiếu phim mỗi tối thứ bảy. Dân chúng lũ lượt đến đây như ngày hội lớn, vừa thưởng thức văn nghệ, xem phim, vừa nghe ông tỉnh trưởng đích thân giải đáp mọi thắc mắc và thỉnh nguyện của đồng bào. Nếu ai không đồng ý điều gì, thì tự do bày tỏ ý kiến, bỏ vào thùng thư dân ý,để tuần tới ông sẽ trả lời. Ông cho xây cổng chánh trường NĐC trên đại lộ Hùng Vương, trải nhựa sân trường và sân quần vợt của trường. Ông còn dành một khu đất lớn, cạnh trường Tiểu học tỉnh lỵ trên đường Ngô Quyền, đối diện trường NĐC để xây dựng trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân.

Ngoài việc tranh thủ lòng dân, kiến thiết thành phố, ông còn phá vỡ các cơ sở nằm vùng, bắt giữ hàng ngàn cán bộ hoạt động cho cộng sản, không những ở Mỹ tho, mà cả ở Sàigòn và các tỉnh lân cận. Ông không chủ trương tiêu diệt người cộng sản mà tranh luận với họ, thuyết phục họ quay về chính nghĩa quốc gia. Ông đã đấu lý với 13 cán bộ trí vận cộng sản tại rạp Viễn Trường ở Chợ cũ Mỹ tho ngày 14/6/1958. Đó là những ký giả kỳ cựu như Triệu công Minh, Tô văn Mạnh...các trí thức như Lê hữu Phước -Luật sư Toà Thượng thẩm Sàigòn, Nguyễn văn Diệp -cử nhân Luật, Giám đốc Việt Nam Ngân hàng, Mã thị Chu -Dược sĩ, vợ kỹ sư Nguyễn văn Hiếu là trưởng ban trí thức vận của cộng sản ở Sàigòn.       

Anh em tổng thống Ngô Đình Diệm lên án ông lập “Định Tường Quốc” với ý định tranh quyền với họ. Ông bị ngưng chức. Ngày rời nhiệm sở, ông đi bộ để từ giả đồng bào, công chức, giáo chức, học sinh...đứng chật hai bên đại lộ Hùng Vương đến cầu đúc -cửa ngõ vào thành phố, dài hơn 2 cây số. Đi sau ông là hàng trăm chiếc xích lô, xe đạp, xe gắn máy, xe hơi, tiển đưa. Sau đó ông lên xe jeep chạy từ từ để chào giả từ các Hội đồng xã và dân chúng đứng dọc theo Quốc lộ 4, dài 13 cây số đến địa đầu tỉnh Long an. Đó là tình cảm chân thành của người dân Mỹ tho đối với người công bộc biết quan tâm đến phúc lợi của đồng bào.

                                                                        *

Ghi lại hoài niệm trường xưa, tôi bồi hồi nhớ đến công ơn của những thầy cũ -những ân sư mà tôi luôn kính trọng như đấng sinh thành. Vì bài viết có hạn, tôi chỉ nhắc đến những thầy lớn tuổi hơn ba má tôi. Đầu tiên là thầy Phùng văn Tài, dạy Lý Hóa. Có lần, không thuộc bài bị điểm zero, tuần sau, vừa vào lớp, thầy gọi tôi lên kiểm tra bài cũ. Lần này khá hơn chút đỉnh, nhưng được phê điểm 15, rõ ràng là điểm khích lệ. Từ đó, tôi luôn cố gắng học thuộc bài của thầy, nhưng ít khi được thầy gọi kiểm tra. Vì lẽ, thầy sành tâm lý học trò, nhìn một vòng, quan sát vẻ mặt từng đứa, thầy biết ngay đứa nào thuộc bài, đứa nào không. Về thầy Trần văn Vạng, có một hôm, tôi diện quần vãi xanh tergal, may tại tiệm may Văn Minh nổi tiếng ở đường Trưng Trắc, để “lấy le” với các bạn nữ cùng lớp. Hôm đó, bác ba Vạng như thường lệ kiểm tra đồng phục học sinh (quần kaki xanh, áo sơ mi trắng). Bác không nở đuổi tôi về nhà, nên làm ngơ để tôi vào lớp. Không may hôm đó, thầy hiệu trưởng Phạm văn Lược đi phát bảng danh dự cho học sinh. Tôi vừa bước tới, thầy nghiêm khắc bảo: phải mặc đồng phục đàng hoàng! Dĩ nhiên tôi không được bảng danh dự. Thầy đã dạy cho tôi bài học: ăn mặc sang đẹp không mang lại danh dự, mà do tư cách của mình.

Về thầy Trần ngọc Tế, năm tôi thi vấn đáp môn Anh Văn ở trường Gia Long, khi tôi vừa ngồi xuống trước mặt giám khảo, tình cờ thấy thầy bước tới. Tôi đứng lên chào, thầy nói đùa với người bạn đồng nghiệp: thằng con tôi. Tôi biết thầy thương mình, muốn giúp mình được điểm tốt. Sự thật là thế, nhưng tôi cảm thấy vui hơn, yêu đời với niềm hy vọng vẫn vơ, vì lẽ thầy có đứa con gái rất dễ thương. Về thầy Nguyễn anh Bổn, không những thầy dạy Pháp văn, mà còn luôn nhắc nhỡ học trò về đạo đức, tác phong. Vào nhà người lạ, người lịch sự không bao giờ nhìn vào phía trong nhà người ta, nhất là nhà có con gái. Trai thấy gái thấp thoáng bên trong, thường liếc nhìn, theo dõi, như vậy là thiếu tư cách. Vì thuộc lòng bài học này, tôi không có cơ duyên trở thành con rể của thầy.        

 Đầu niên học 1965-66, tôi đang làm hiệu trưởng trung học Hồng Ngự, tình cờ gặp lại Kim Liêng con thầy. Liêng và người bạn Trần thị Ấu Mai (con trưởng ty Thuế vụ Nha trang) đến trường trao cho tôi lá thư của ông Trưởng ty Tiểu học Phan văn Tài, nhờ giúp đỡ hai cô Giáo học bổ túc Sư phạm Sàigòn, được bổ nhiệm về hai trường xã thuộc quận Hồng Ngự. Dù không có thư của thượng cấp, tôi cũng có bổn phận phải giúp con của thầy và bạn của Liêng. Tôi đến thăm hai nhân sĩ Hòa Hảo có uy tín lớn trong vùng để xin cho hai cô ở trọ. Họ là những người lớn tuổi, quí trọng những người dạy dỗ con cháu họ, nhưng họ e dè trước hai cô giáo trẻ đẹp, văn minh -dân Sàigòn. Tôi trấn an: bà con ở đây ai cũng kính Đạo trọng Thầy, chúng cháu là giáo chức lại càng phải giữ gìn đạo lý gia phong, không giao tiếp bừa bãi để nêu gương cho học trò và cũng để giữ uy tín của bác. Cháu sẽ đến thăm bác và xin phép hướng dẫn các cô đi thăm thánh địa và các thắng cảnh ở Long xuyên, Châu đốc.        

 Bước ra khỏi xã Long Thuận, cô Ấu Mai không còn là cô giáo nghiêm trang, mà là hiện thân của một nữ sinh Sài thành đài các, xinh đẹp với chiếc áo montagu thời trang lúc bấy giờ và quần jean đúng mốt. Tôi đã xin ông Thanh tra tiểu học Nguyễn văn Huệ cho cô Ấu Mai về trường Hồng ngự. Ông trả lời: Mầy thương nó phải không, nói thiệt đi, tao giúp. Tôi biết trả lời sao, thương thì thương thiệt, nhưng ngặt nổi còn có Liêng, nên trả lời: Bác biết hết rồi, nên cháu mới dám xin. Cuối năm 1965, mượn cớ công vụ, tôi mượn ho bo của quận đến trường Long Khánh C. Tôi nói với anh Hường hiệu trưởng, muốn gặp cô Liêng. Nghe xong, anh đánh trống tan trường. Không những tôi mà các đồng nghiệp đều ngạc nhiên, trong khi học trò vui mừng được nghỉ học sớm. Hơn 200 giáo chức trong quận đều biết tôi vì hàng năm họ tụ tập về quận tham dự hội giảng giáo khoa, do tôi và hai thanh tra tiểu học thuyết trình. Biết mục đích của tôi đến trường để gặp Liêng, họ đến chào và rút lui sớm. Trong khung cảnh nên thơ êm đềm buổi chiều của một ngôi trường nằm bên bờ sông lớn, tôi ngỏ lời cưới Liêng. Liêng trả lời, tùy má quyết định! Tại sao, em không muốn phải không? Liêng đáp: vì má chưa biết anh. Ngày 23 tháng chạp nhân dịp bãi trường Tết, tôi cùng Liêng về Mỹ tho. Gặp lại thầy cũ, tôi không dám đường đột xin cưới Liêng, tôi dự tính sau Tết sẽ nói với bác tôi nhờ thầy Trần ngọc Quang hoặc bác ba Vạng ngõ ý với thầy. Trong khi ngồi hầu chuyện với thầy, tôi nghe tiếng động phía sau, chắc chắn là do má Liêng cố ý tạo ra, để tôi quay lại chào bà. Nhưng tôi đã không làm, vì mình đang ngồi hướng ra phía trước. Trước khi ra về, tôi xin phép được chào bác gái, thầy trả lời: được rồi, để bác nói lại.

Ngoài sơ suất trên, tôi còn thất hứa với Liêng. Tôi đã hứa trưa mùng 5 Tết sẽ đón Liêng ở ngả ba Trung lương để cả hai trở lại Hồng ngự. Ngày Tết ham vui, nên không giữ lời hứa. Mấy ngày sau, vừa đến Kiến phong, thì được lịnh phải trình diện gấp để theo học khóa 22 Thủ Đức. Tôi cũng không đến từ giả Liêng trước khi nhập ngũ. Đây là nổi ray rức dày vò cả đời tôi. Tôi tự an ủi, gia nhập quân đội, tôi đã mất người yêu. Không được trọn tình với người mình yêu thì từ nay xin được trọn nghĩa với nước. Cuối cùng quân đội thân yêu của tôi cũng mất. Ngày 30/4/1975, tổng thống cuối cùng VNCH -cựu đại tướng Dương văn Minh, là cựu học sinh collège Mỹ tho đã mời đại diện Mặt trận Giải phóng Miền Nam vào Dinh Độc lập để ông bàn giao chánh quyền. Chủ tịch MTGPMN, nay là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chánh phủ cách mạng lâm thời -Luật sư Nguyễn hữu Thọ, sanh quán Mỹ tho, cựu học sinh Collège de Mytho. Tổng thư ký MTGP nay là Thủ tướng chánh phủ cách mạng lâm thời cũng là cựu học sinh Mỹ tho. Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Giáo dực Nguyễn văn Kiết nguyên là giáo sư Collège Mytho. Điều đau buồn, là không một ai trong số đó, nhận lãnh chánh quyền mới. Người đại diện của họ là bộ đội trung đoàn chiến xa miền Bắc, họ bắt ông Dương văn Minh và Nội các hòa giải hòa hợp dân tộc phải đầu hàng.

Nhiều bạn bè của tôi đã đứng này hay bên kia trong cuộc chiến, cuối cùng đều vỡ mộng. Cá nhân tôi, nhờ môi trường quân đội, tôi có dịp nghiên cứu cuộc chiến đau thương của dân tộc, để viết quyển Việt Nam Thắng và Bại. Quyển sách được Giáo sư Vũ Quốc Thúc viết lời Tựa. Giáo sư là một chứng nhân lịch sử đã chứng kiến những biến cố lớn của đất nước được tôi trình bày trong sách. Năm 2010, nhân kỷ niệm thượng thọ 90 tuổi, Giáo sư cho xuất bản quyển hồi ký Thời Đại Của Tôi. Đọc xong cuốn I, tôi có viết đôi dòng “Cảm nghĩ khi đọc Thời Đại Của Tôi”. Tôi lại được vinh dự lớn, bài viết được Giáo sư dùng để mở đầu Cuốn II: Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến. Năm vừa qua, Giáo sư VQT cùng 35 trí thức hải ngoại gởi thư ngõ đến giới lãnh đạo CSVN. Nhiều người lên tiếng công kích thư ngõ, không phải vì nội dung thư mà vì đã “kính gởi” những người lãnh đạo phản bội dân tộc.

 Trong lời mở đầu hồi ký, Giáo sư VQT đã viết “Tương lai đất nước tùy thuộc rất nhiều ở cách suy tư cũng như xử sự của mọi người Việt, đặc biệt của những kẻ đang cầm quyền”. Nay, vì tương lai đất nước, Giáo sư viết thư kính gởi những kẻ đang cầm quyền là cung cách lịch sự của người trí thức. Đó cũng là “tiên lễ”: gửi thư ngỏ “là chính thức cảnh giác nhóm lãnh đạo về trách nhiệm lịch sử của họ. Nếu họ sớm tỉnh ngộ, biết đưa ra những biện pháp cải cách phù hợp với xu hướng tiến hóa của thế giới hiện đại, thì họ có thể tránh cho đất nước những sự mất mác, đổ vỡ, rối loạn...như ta đang chứng kiến ở một số quốc gia vùng Bắc Phi và Trung Đông”. Sau đó là “hậu binh”, tôi viết Hải ngoại tâm thư gởi đồng bào, vạch ra những sai lầm của Đảng CSVN và đề nghị họ “Nếu vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vì quốc gia dân tộc, hãy tiến hành xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa với nền chính trị dân chủ, con đường tiến tới quyền lực phải thông qua bầu cử tự do, chớ không phải độc tài chuyên chính của Mác-Lênin. Công hữu hóa triệt để tài sản của tư bản đỏ, để san bằng bớt bất công xã hội. Sau đó thực hiện chế độ tư hữu toàn dân”. Giáo sư VQT đã giới thiệu “Hải ngoại tâm thư gởi đồng bào” qua bài viết “Từ bức thư ngỏ của 36 trí thức hải ngoại tới bức tâm thư của học giả Lê Quế Lâm”.

Đây là sự đóng góp đối với đất nước của một cựu học sinh Nguyễn Đình Chiểu Mỹ tho. Và để kết thúc bài viết, tôi đề cập đến hai nhân vật điển hình của ngôi trường trung học lâu đời nhất của đất nước: một vị thầy Trần Văn Hương và một học trò Huỳnh Tấn Phát. Trong những giờ phút cuối cùng của MN tự do, cụ Hương tuyên bố “Nếu CS đưa ra điều kiện của người thắng trận cho người bại trận, thì chúng ta không còn cách gì khác hơn là nếu được, chúng ta cứ việc chiến đấu đến cùng. Chừng đó dẫu Sàigòn này có biến thành một biển máu, tôi nghĩ rằng người VN vì thể diện của mình không thể nào mà từ chối được...Chúng ta sẽ cùng nhau với nước VN này mà chết, chớ không thể chấp nhận đầu hàng”.

Nhà báo Phạm đình Trọng trong nước đã nhận xét về Huỳnh Tấn Phát trong bài viết nhân ngày Đảng CSVN tròn 82 tuổi (3/2/2012): “Một trí thức yêu nước của giai cấp tư sản giàu có của cải, giàu có trí tuệ đi với cách mạng vô sản trong chiến tranh giải phóng dân tộc, khi rời chức vụ về hưu ông đã trả ngôi nhà nguy nga được cấp giữa thủ đô cho Nhà nước, trở về ngôi nhà của gia đình có từ trước cách mạng. Đó là cách hành xử của trí thức tư sản, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Còn quan chức vô sản bao đời không nuôi nổi bản thân, nay có chức vụ liền dùng chức vụ để thỏa mãn những thèm khát từ bao kiếp người. Quan chức nào cũng vội vã xây lâu đài nguy nga. Chính những lâu đài nguy nga đó đã dựng lên chân dung văn hóa nghèo nàn thảm hại của họ”.

Lê Quế Lâm

 

Ý Kiến Bạn Đọc (0)

Subscribe to this comment's feed

Bạn Đọc góp ý :

Ô nhỏ | Ô lớn

busy

Chân Ngôn Thiền

20. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong trí tưởng tượng của mình.

Nhớ về Đà Nẵng năm xưa !

tác giả Vũ Nguyên Hồng

Bác Sĩ Nha Khoa

Nguyễn Thùy Linh DDS
770-986-0773

Cải Cách Ruộng Đất

Bi Kịch của Lịch Sử Dân Tộc
Tội Ác vô cùng ghê tởm do Cọng Sản Việt Nam gây nên

Thương tiếc giọng ca vàng

Tìm Hiểu Pháp Luật

Tiến Sĩ Luật Khoa Tom Huỳnh
949-444-2544

Mậu Thân ở Huế

Tội ác lớn nhất của Cọng Sản trong lịch sử Việt Nam
Viet Cong Strategy of Terror

Nhớ Trịnh Công Sơn

30 tháng 4

Đánh vợ hay bị vợ đánh

BẠO HÀNH TRONG GIA ĐÌNH
Loading
Nhớ về Đà Nẵng năm xưaĐèn CùLuyến Tiếc Cố ĐôLá thư cho BaCải Cách Ruộng Đất

Bạn đang tìm xem các bài trong mục: QUỐC HẬN 30/4 chuyện chưa quên Hoài niệm về trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho