Thư gửi nhà sử học Dương Trung Quốc

 

Nguyễn Văn Dũng

 

Huế, ngày 02 tháng 03 năm 2005

Thưa ông,

Cho phép tôi tự giới thiệu: Tôi là Nguyễn Văn Dũng, vơ sư Karate. Trong buổi toạ đàm về Dự án Life Resort Vọng Cảnh hôm 27/02/2005 tại Huế, nghe ông phát biểu, nay đọc bài “
Hăy nh́n xuống chân ḿnh” của ông trên Vietnamnet ngày 27/2/2005
, tôi thật sự bất ngờ. Vậy nên tôi gửi thư nầy đến ông, xin bày tỏ với ông đôi điều.


1.

Trước hết, mở đầu bài viết ông giả dụ: “Nếu dự án này không được thực hiện nữa th́ Đồi Vọng Cảnh sẽ ra sao?”. Rồi ông tự trả lời: “Đương nhiên những người phản đối sẽ thở phào trong tâm trạng của người... chiến thắng, như một nghĩa sĩ cứu được một nàng công chúa”. Cho tôi không phân tích thái độ miả mai của ông trong cách nói, tôi chỉ muốn nói đến cái điều ông nói: “Đương nhiên những người phản đối sẽ thở phào trong tâm trạng của người... chiến thắng”. Sao lại “chiến thắng”? Vậy ai là người “chiến bại”? H́nh như ông không hiểu cuộc tranh luận của chúng tôi liên quan đến Dự án Life Resort Vọng Cảnh. Thưa ông, đó không phải là cuộc chiến đấu kiểu một mất một c̣n. Chúng tôi có cùng một mục đích: v́ Huế. Chỉ khác nhau ở điểm, người bảo vệ Dự án nghĩ Dự án sẽ giúp Huế giàu lên; người phê phán Dự án lại nghĩ Dự án sẽ làm Huế xấu đi, mà đă xấu đi th́ Huế sẽ không thể giàu lên được nữa. Giả dụ Dự án được thực hiện, hẳn người ủng hộ sẽ buồn ḷng v́ đă góp phần làm Huế xấu đi. C̣n nếu Dự án không được thực hiện, những người phê phán sẽ hối tiếc đă bỏ mất một cơ hội nói “Yes” với chủ đầu tư nước ngoài. Thế đấy, không có chuyện ai được ai mất, ai thắng ai thua trong vụ nầy!


2.

Trong bài viết ông kể tỉ mỉ: Ngày 29/1, từ Hà Nội ông vào dự lễ động thổ công tŕnh tai tiếng ấy. Ông đứng trên Đồi Vọng Cảnh... Thôi th́, tôi không phàn nàn chi việc ông biểu chúng tôi hăy nh́n xuống dưới chân ḿnh... “là cả một băi rác đầy những thứ xú uế”, dù lúc ấy ông đang là khách của chúng tôi. Một nhà văn đă viết, “Núi cao là nơi un đúc những giá trị tâm linh”... Từ trên đỉnh Vọng Cảnh, danh phận như ông đáng ra phải nh́n cái ǵ thú vị hơn nh́n đống rác dưới chân (gia dĩ người bảo vệ chỉ dọn sạch trong ṿng vài giờ), đáng ra phải nghĩ đến cái ǵ lớn hơn mùi xú uế. Chẳng hạn: Khu du lịch Vọng Cảnh nằm trong vùng thu nước của nhà máy nước Vạn Niên. Qui mô của nó, cùng những quán ăn, nhà hàng, quầy phục vụ... của người dân phát sinh theo qui luật kinh tế thị trường, đủ để biến khu vực Vọng Cảnh thành một “thị trấn thu nhỏ”. Vậy, toàn bộ nước thải của khu khách sạn, khu vệ sinh, và của cái trị trấn thu nhỏ ấy sẽ đổ đi đâu để không trở thành thức uống của hơn 30 vạn cư dân thành phố và cư dân các huyện vùng ven? Điều ấy không làm cho ông động ḷng sao? Hoặc, khi Khu du lịch Vọng Cảnh nằm trong vùng lăng tẩm và chỉ cách lăng Tự Đức vài trăm mét biến thành một thị trấn - mà ông biết rồi, du lịch, phục vụ bao giờ cũng kéo theo ăn chơi, đàn đúm, hút sách, ồn ào, chộn rộn... Thế là không c̣n nữa không gian tĩnh lặng chan chứa thiền vị vốn là linh hồn của khu vực nầy; khu vực từng là niềm tự hào của Huế, từng làm say đắm níu chân bao du khách qua đây. Điều ấy không làm cho ông xót xa, trăn trở sao?


3.

Tôi có cảm tưởng như ông reo vui khi phát hiện đống rác dưới chân, đến nỗi không như những người khác t́m một vị trí sạch sẽ hơn để ngắm cảnh, ông vẫn chịu trận với đống rác toả mùi xú uế, chỉ để nói với người Huế rằng, “cứ để Đồi Vọng Cảnh hoang phế như thế này th́ khó gọi là danh thắng, là di sản. C̣n muốn tôn tạo và tôn vinh nó th́ ai làm và với nguồn lực nào?”. Cái logic của ông thật quá đơn giản và dễ hiểu: Đồi Vọng Cảnh “là danh thắng, là di tích” (đúng) - không thể để Đồi Vọng Cảnh hoang phế “với đống rác toả mùi xú uế” như hiện nay (đúng) - Phải làm sao cải tạo Đồi Vọng Cảnh cho xứng với vị trí của nó (đúng). Nhưng ai làm và tiền đâu? - Th́ đây: Công ty LD Vọng Cảnh với Dự án Life Resort 4,9 triệu USD. Đúng là quá đơn giản và dễ hiểu, chỉ tiếc là không thuyết phục chút nào. Đáng ra ông vào Huế, nghiên cứu thật kỹ hồ sơ thiết kế, khảo sát thực địa; tiếp xúc với lănh đạo tỉnh, lănh đạo TP Huế, chủ đầu tư, các cơ quan chức năng như Sở Văn hoá - Thông tin, Sở Xây dựng, Hội Kiến trúc sư, Cty Bảo tồn Di tích... tiếp xúc với các nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà nghiên cứu, nhân sĩ trí thức... Rồi, trên cơ sở chủ trương bảo tồn gắn liền với phát triển, mà đúc kết để h́nh thành quan điểm của riêng ông. Rằng, Dự án Life Resort Vọng Cảnh tốt hay tồi, nên làm hay nên bỏ, nên làm ở đó hay nên di chuyển sang một địa điểm khác. Đó mới là điều lănh đạo Tỉnh Thừa Thiên - Huế và nhân dân Huế chờ đợi ở ông. Vậy mà, rơ ràng ông đă có kết luận sẵn trước khi đến Huế: Tốt, nên làm ở đó! Việc c̣n lại của ông là đi t́m một số chứng cứ để củng cố cho kết luận có sẵn của ông. Và duyên may đă giúp ông gặp “đống rác toả mùi xú uế” trên Đồi Vọng Cảnh.

Hẳn là ông không tin chi lắm cái kết luận có sẵn của ḿnh, nên mới dỗ dành: “Giống như cảnh nhà nghèo, đôi khi ta phải cho thuê cả mặt tiền nhưng cố giữ lấy cái bàn thờ...”. Đọc đến đây tôi lặng người! Không biết ông đă có kinh nghiệm “phải cho thuê cả mặt tiền” chưa? Nếu “phải cho thuê cả mặt tiền” th́ mỗi lần vào ra ông đi bằng cách ǵ? Nếu mặt tiền ấy ngày trước là nơi lần đầu mẹ ông về với ba ông, là nơi ông chào đời, là nơi những đứa con của ông sinh ra, là nơi ông tiễn biệt người thân... liệu ông có đành ḷng cho thuê không? Xin lỗi, tôi hỏi có hơi cặn kẽ một chút v́ muốn biết rằng, nếu những nơi như thế mà người ta nỡ cho thuê th́ rồi ra người ta cũng sẽ cho thuê luôn cả bàn thờ. Với Huế, theo tôi, Huế có khó khăn đấy, nhưng chưa đến nỗi (và chắc sẽ không bao giờ) “phải cho thuê cả mặt tiền” đâu, thưa ông.

Sau khi chân thành khuyên “nhà nghèo, đôi khi ta phải cho thuê cả mặt tiền nhưng cố giữ lấy cái bàn thờ”, ông cẩn thận nhắc: “Vậy vấn đề đâu là bàn thờ và cho ai thuê và để làm ǵ?”. Ông nhắc là đúng. Bởi không khéo ham tiền cho người ta thuê làm chuyện bậy bạ th́ sẽ mang tiếng với đời. Riêng «bàn thờ”, ông nhắc có hơi thừa. Trong nhà có mỗi bàn thờ để thờ ông bà, cha mẹ mà cũng không biết, th́ ra là con bất hiếu à!

Vâng, trong nhà chắc không ai ngẩn ngơ đến mức không nhận ra bàn thờ khác với các loại bàn khác. Nhưng trong thành phố, không phải ai cũng nhận ra sự khác nhau giữa nơi nầy nơi kia. Hôm dự toạ đàm hẳn ông đă biết. Nhiều người vẫn thấy sông Hương với Huế th́ cũng giống như bao con sông khác! Đồi Vọng Cảnh trong vùng lăng tẩm và cảnh quan sông núi Huế th́ cũng giống như bao đồi núi khác. Nên họ cho là, chẳng có luật lệ nào cấm việc xây dựng khách sạn trên Đồi Vọng Cảnh cả! Họ không biết rằng Quyết định số 99 QĐ của UBND Cách mạng B́nh Trị Thiên ngày 19/5/1976 và Quyết định số 1045 QĐ/UBND của UBND Tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày 08/10/1993 đă xếp hạng Vọng Cảnh vào danh mục các “di tích và danh lam thắng cảnh” của Thừa Thiên - Huế cần được bảo vệ: “Nghiêm cấm mọi hoạt động xây dựng, khai thác trong khu vực bảo vệ của di tích và danh lam thắng cảnh...”. Mới đây, Bộ Văn hoá - Thông tin có Công văn số 382/VHTT-DSVH ngày 03/02/2005 xác nhận: «Khu đồi Vọng Cảnh là một điểm nằm trong không gian qui hoạch của một số di tích như Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Điện Ḥn Chén thuộc quần thể di tích cố đô Huế. Đây là khu di tích đầu tiên của Việt Nam được UNESCO quyết định đưa vào danh mục di sản văn hoá thế giới”.

Tôi hiểu được sự nóng ḷng của ông: “Làm thế nào để Đồi Vọng Cảnh phải được chăm sóc và phát huy đúng với giá trị của nó chứ không phải như hiện trạng” - người Huế chúng tôi c̣n quay quắt hơn ông nhiều, thưa ông. Trước đây, một nhân sĩ từng để lại nhiều dấu ấn trên “Thành phố đẹp và thơ” nầy - Cụ Nguyễn Hữu Đính, từ năm 1964 đă có Dự án Rừng du ngoạn miền lăng tẩm phụ cận Huế, được nhiều nhà chuyên môn đánh giá là “tối ưu”. Năm 1976, Dự án Để Huế giữ vững danh truyền “Thành phố đẹp và thơ” và là một Trung tâm du lịch Thế giới trong tương lai. Đến năm 1979, cụ tiếp tục hiến kế Một hậu phương vững mạnh để “Huế đẹp, Huế thơ” thêm xanh, thêm giàu, thêm mạnh. Chỉ tiếc, câu trả lời vẫn là: Tỉnh ta c̣n nghèo. Hăy đợi! (Nghiên cứu Huế - Tập I, II, III). Gần đây, UBND Tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng đă có Quyết định số 2317/QĐ-UBND ngày 11/10/1999 về việc phê duyệt qui hoạch chi tiết bảo tồn tôn tạo các di sản văn hoá và môi trường cảnh quan ở Tây Nam - Huế, đă định hướng: Tại Đồi Vọng Cảnh “chỉ thực hiện các dự án trồng cây, giải toả mồ mả để khai thác phong cảnh đẹp, bảo vệ tiền án của các lăng”. Rồi biết bao nhiêu người Huế nóng ḷng muốn “hiến kế”, đề xuất dự án xây dựng, tôn tạo Vọng Cảnh cho đúng với giá trị của nó, trong đó có tôi. C̣n nhớ, lần ấy tôi chọn Vọng Cảnh là điểm để đón buổi b́nh minh đầu tiên của thế kỷ 21, của thiên niên kỷ thứ III - nghĩa là buổi b́nh minh mà phải 1.000 năm sau mới trở lại. Giữa không gian bao la và rực rỡ như một bức tranh thời Phục Hưng, tôi mường tượng: “Nếu tôi là Chủ tịch Thành phố...”. Và tôi đă có dịp phát biểu phác thảo ấy trong buổi toạ đàm về Khu du lịch Vọng Cảnh, chắc ông c̣n nhớ. Theo tôi: Không nên để Vọng Cảnh như t́nh trạng hiện nay. Cũng không nên hiện đại hoá Vọng Cảnh bằng Dự án Life Resort. Mà nên xây dựng Vọng Cảnh thành khu du lịch sinh thái với hoa lá, cây cao bóng cả, những con đường nhỏ nhắn uốn lượn, những ghế đá, những tượng đài, đôi ba “vọng lâu” để du khách ngắm cảnh, đề thơ... biến Vọng Cảnh thành một trong những điểm du lịch độc đáo của Huế. Du khách đến Huế, ngoài tham gia các tour tham quan lăng tẩm, đại nội, nghe ca Huế trên sông, thưởng thức món ăn đặc sản... c̣n có thể tham gia tour lên Đồi Vọng Cảnh ngắm hoàng hôn trên sông Hương. Như thế tức là vừa tôn vinh vẻ đẹp của Vọng Cảnh, vừa đặt Vọng Cảnh đúng với vị trí của nó.

Thưa ông, tôi dẫn chứng dài ḍng một chút là để nói với ông rằng, không phải người Huế vô cảm trước t́nh trạng hiện nay của Vọng Cảnh, cũng không phải lănh đạo chúng tôi không làm, mà chỉ chưa kịp làm đó thôi. Nhiều người đến Huế đă nhận xét: “Ở Huế cái ǵ cũng chậm!” - đó là một đặc điểm của Huế. Cơ chi ông cũng biết thế, để nhờ ông tham mưu với lănh đạo tỉnh. Đại loại: Nên làm, cần làm ngay. Hoặc lệnh cho cơ quan chức năng làm, hoặc bật đèn xanh cho tư nhân đầu tư... Chỉ thế thôi. Và tôi tin không phải một dự án như ông nói mà hàng chục dự án sẵn sàng nộp đơn để được sát hạch.


4.

C̣n một chi tiết nữa trong bài viết của ông làm tôi giật ḿnh. Đó là khi ông nhắc đến “dự án cáp treo ở Yên Tử”. Bỗng nhớ, tháng 6/2004 tôi về thăm Yên Tử, t́nh cờ nghe một nhóm du khách th́ thầm chi đó về cáp treo và nhắc đến tên ông bằng giọng phê phán. Xin ông đừng buồn. Phàm ở đời, việc ǵ cũng có mặt nọ mặt kia, người khen kẻ chê. Đừng thấy người khen mà vui, đừng thấy người chê mà buồn, v́ họ cũng chỉ là con người. Thời gian và lịch sử mới là vị quan toà công minh nhất. Về “dự án cáp treo ở Yên Tử”, theo chỗ tôi biết, chưa phải đă kết thúc... Rồi thời gian và lịch sự sẽ phán xét. Nhưng đó là việc của ông. Nay tôi muốn nói về dụng ư của ông khi ông nhắc đến “dự án cáp treo ở Yên Tử” trong bài viết về Đồi Vọng Cảnh.

Ai mới đọc rất dễ tưởng ông lấy vụ “cáp treo” để khuyên nhà đầu tư nên “công khai và minh bạch”. Liệu đ̣i hỏi ấy có quá đáng không, thưa ông? Vậy th́, xin hỏi, ông chấm điểm cho Dự án Life Resort Vọng Cảnh nhưng có khi nào ông được nh́n tận mắt hồ sơ thiết kế của Dự án ấy chưa, hay cũng chỉ chiêm ngắm cái phối cảnh đẹp như tranh - cái phối cảnh mà ông Trần Ngọc Chính (Vụ trưởng Vụ Kiến trúc - Qui hoạch, Bộ Xây dựng) đánh giá là không khớp với địa h́nh thực tế và “Vẽ kiểu ăn gian như thế không được”? (Đại loại cũng như chấm điểm cho một thí sinh hoa hậu chỉ với mấy tấm ảnh trên bàn c̣n mặt mũi người đẹp đâu th́ chẳng thấy!). Lại xin hỏi, trong xấp tài liệu để trước mỗi đại biểu dự toạ đàm, ông có thấy thiếu 4 văn bản pháp lư (đă dẫn ở trên) dẫn đến kết luận: Dự án Life Resort Vọng Cảnh vi phạm Luật Di sản? Ông có thấy, trong xấp tài liệu trích dẫn toàn những bài báo chỉ biết gồng ḿnh bảo vệ Dự án, trong lúc hàng chục bài báo khác đầy tâm huyết phân tích cái hay cái dở của Dự án th́ chẳng thấy đâu?... Nhưng chẳng sao, v́ dụng ư chính của ông nằm ở điểm khác.

Có phải ông muốn nói có những công tŕnh lúc đầu bị phê phán, bị chống đối, nhưng cứ kiên định, rồi ra sẽ thuyết phục được mọi người và sẽ tồn tại với thời gian, ví dụ như “dự án cáp treo ở Yên Tử”. Vậy th́ Dự án Life Resort Vọng Cảnh cũng thế, cứ nghiến răng mà làm, rồi mọi người sẽ thấy hay ho và chấp nhận thôi...? Tôi thừa nhận với ông, có nhiều công tŕnh của những bộ óc lỗi lạc mà người đương thời không hiểu và không chấp nhận được, măi lâu sau họ mới nhận ra, để rồi ca ngợi, tôn vinh. Ví dụ như tháp Eiffel của Pháp. Nhưng có phải tất cả các công tŕnh lúc đầu bị phê phán, nếu cứ nghiến răng làm tới th́ đều tồn tại với thời gian cả đâu. Về điểm nầy người Huế có quá nhiều kinh nghiệm xa xót lắm rồi. Ví dụ: Công tŕnh thuỷ lợi Nam Sông Hương, Nhà hàng nổi bên phải Nghinh Lương Đ́nh, Trụ sở Công ty xi măng Luckvaxi phía bờ sông không xa bia Quốc học, Đài liệt sĩ trên Đàn Nam Giao... Cho nên, người Huế chờ đợi ở ông tinh thần khoa học và có trách nhiệm thực sự, đó là phân tích, mổ xẻ bản thân Dự án Life Resort Vọng Cảnh để đi đến kết luận sau cùng: Dự án có tốt không, có khả thi không; chứ không cần kiểu đem kinh nghiệm vượt cạn của một công tŕnh nọ để bảo chứng cho sự trót lọt của một công tŕnh kia.

Nhưng điều làm tôi giật ḿnh không phải nơi kiểu lư luận xảo thuật của ông, mà nơi cách ông nghĩ. Là một nhà sử học nhưng ông lại có cách nghĩ hao hao với cách nghĩ của một doanh nhân! Ông hồ hởi khoe “Đến nay, lễ hội Yên Tử ngày càng đông, cáp treo phát huy được tác dụng”. Tất nhiên, làm kinh tế th́ trước hết phải nghĩ đến lợi nhuận, nhưng với ông, chẳng lẽ không c̣n ǵ để nghĩ thêm sao? Ví dụ: Hơn 700 năm trước, vua Trần Nhân Tông từ bỏ cung vàng, điện ngọc, xe ngựa xênh xang... t́m về chốn Trúc Lâm xa xôi, tĩnh lặng mà viên thành ḍng Thiền Trúc Lâm thuần tuư Việt Nam - ḍng Thiền đă toả bóng suốt chiều dài lịch sử văn hoá dân tộc... Hoặc, điều ǵ đọng lại trong tâm thức những du khách đến với Yên Tử bằng cáp treo? Và điều ǵ đọng lại trong tâm thức những du khách đi bộ lên Yên Tử dưới hàng tùng ngót nghét 700 tuổi đời?...

Thế là đă rơ. Sau khi thành công trong việc đưa cáp treo lên hiện đại hoá cảnh giới Yên Tử, nay ông lại bảo tiêu cho cái “thị trấn thu nhỏ” với hệ thống khách sạn ngủ nghỉ, lập loè, ăn chơi... ngay trên “tiền án” của quần thể lăng tẩm, sát nách lăng Tự Đức, và bên bờ sông Hương ở quăng sông thơ mộng và trầm lắng nhất.


5.

Tôi muốn nhắc lại một việc liên quan đến bài viết của ông. Trong buổi toạ đàm Dự án Life Resort Vọng Cảnh, phần mở đầu, để khẳng định tuy không phải người Huế nhưng ông “có trách nhiệm” với Huế, ông nói: “Sáng nay điểm lại trên đường từ ga Huế trở về, đây là lần thứ 150 tôi đến Huế trong ṿng 30 năm qua”. Cứ cho như ông đă đến Huế đúng 150 lần. Nhưng điều đó chẳng có ư nghĩa ǵ hết… Với việc ông ủng hộ Dự án Life Resort Vọng Cảnh, tôi đồ rằng ông không hiểu chi về Huế cả, hoặc giỏi lắm cũng chỉ hiểu qua loa về Huế thôi. Nếu không tin, xin ông vui ḷng trả lời cho tôi mấy câu hỏi nầy: Yếu tố nào đă tạo nên Huế để UNESCO công nhận Huế là di sản văn hoá nhân loại? Con sông Hương có ư nghĩa như thế nào đối với lịch sử Huế, văn hoá Huế và con người Huế? Đặc trưng của vùng lăng tẩm Tây - Nam Huế là ǵ, và có vai tṛ ǵ đối với di sản văn hoá Huế? Đồi Vọng Cảnh giữ vị trí ǵ và có ư nghĩa như thế nào trong không gian qui hoạch của quần thể di tích vùng Tây - Nam Huế? Đặc trưng của tính cách Huế là ǵ? Trong xu thế hội nhập hiện nay, người Huế muốn ǵ nhất?... Nhân tiện nhắc ông, Vọng Cảnh là “Tiền án của các lăng” chứ không phải “tiền cảnh” như ông viết đâu. Tiền án và tiền cảnh khác nhau đến mức cũng như bàn thờ và bàn ăn vậy mà!

Thư bất tận ngôn. Chào ông.

Nguyễn Văn Dũng